Home » Uncategorized » Bệnh bạch cầu tủy là gì? Các phương pháp chuẩn đoán bệnh

Bệnh bạch cầu tủy là gì? Các phương pháp chuẩn đoán bệnh

BỆNH BẠCH CẦU TỦY

1. ĐẠI CƯƠNG

Bệnh bạch cầu tủy cấp là bệnh ác tính của cơ quan tạo huyết, trong đó có sự tăng sinh các tế bào non đầu dòng tủy bất thường và thiểu sản các tế bào máu bình thường ở tủy xương.

Các tế bào ác tính tăng sinh trong tủy, dần dần thay thế các tế bào tạo máu cùng các chức năng của chúng gây ra các triệu chứng của bệnh như: thiếu máu, nhiễm trùng, xuất huyết.

Ở Việt Nam theo ghi nhận Ung thư ở Hà Nội 1996, tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu cấp chung cho cả hai giới là 3,4/100.000. Nam mắc nhiều hơn nữ với tỷ lệ nam/nữ: 2/1,1.

Theo ghi nhận Ung thư quần thể tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, xuất độ chuẩn theo tuổi của bệnh bạch cầu tủy chung là 0,8/100.000 dân.

Tham khảo thêm

Thuốc Sorafenat điều trị ung thư gan có hiệu quả không?

Thuốc Osimert điều trị ung thư phổi sau bao lâu thì kháng thuốc?

2. CHẨN ĐOÁN

2.1. Lâm sàng

– Bệnh khởi phát có thể đột ngột nhưng thường có một giai đoạn tiền triệu kéo dài từ 1-6 tháng. Bệnh diễn biến nhanh, thường bệnh nhân phải đến viện trong vòng một vài tháng, hiếm khi trên 6 tháng.

– Biểu hiện của bệnh với các triệu chứng và dấu hiệu của 3 hội chứng chủ yếu sau:

+ Hội chứng thiếu máu: xanh xao, yếu mệt, đánh trống ngực, khó thở.

+ Hội chứng nhiễm trùng: các nhiễm trùng sinh mủ hay gặp, có thể tại chỗ hoặc toàn thân. Vị trí hay gặp là họng miệng hoặc hậu môn trực tràng. Nhiễm trùng luôn kèm theo sốt.

+ Hội chứng xuất huyết giảm tiểu cầu: biểu hiện bằng các vết thâm tím, ban xuất huyết, đốm xuất huyết, chảy máu cam, chảy máu lợi, xuất huyết kết mạc và chảy máu lâu cầm mỗi khi bị xây xước nhỏ. Đôi khi có xuất huyết tiêu hóa và tiết niệu. Dấu hiệu xuất huyết nghiêm trọng do đông máu nội mạch rải rác thường chỉ thấy ở thể bệnh bạch cầu cấp tiền tủy bào (M3).

–  Các triệu chứng và dấu hiệu khác:

+ Đau xương: cũng gặp trong bệnh bạch cầu tủy cấp nhưng ít hơn so với bệnh bạch cầu lymphô cấp.

+ Lách to hoặc gan to biểu hiện ở khoảng 1/3 số bệnh nhân.

+ Hạch to: ít khi gặp ngoại trừ thể bệnh bạch cầu câp loại đơn nhân.

+ Với các thể bệnh bạch cầu cấp loại đơn nhân, M4 và M5 phì đại lợi rõ rệt thường có loét và chảy máu cũng như kèm các tổn thương sần và cục không đau là các triệu chứng và dấu hiệu đặc trưng.

+ Ngoài ra bệnh nhân có thể chán ăn và sút cân.

22. Cận lâm sàng

2.2.1. Công thức máu và huyết đồ

Bạch cầu dưới 5000/mm3 ở khoảng 1/2 số bệnh nhân, trên l0.000/mm3ở xấp xỉ 1/3 số trường hợp. Mức độ tăng bạch cầu có thể thay đổi, hiếm khi nặng. Chỉ có 5% số trường hợp có tăng bạch cầu rất cao, trên 100.000/mm3.

– Tiểu cầu luôn thấp, số lượng tiểu cầu dưới 50.000/mm3 ỏ 1/2 số bệnh nhân.

– Hầu hết bệnh nhân có thiếu máu đẳng sắc, hematocrit 25-35%.

–  Nguyên tủy bào thường chiếm từ 3-95% số lượng bạch cầu trong máu với số lượng có thể tới hơn 100.000/mm3.

2.2.2.  Chọc hút tủy xương (tủy đồ)

Rất hữu ích cho chẩn đoán xác định, phân biệt được với các bệnh khác. Tủy có các tế bào non của bệnh bạch cầu, các que Auer và một số đặc điểm khác của bệnh được xác định bằng cảc phương pháp nhuộm và các phản ứng miễn dịch.

2.2.3. Sinh thiết tủy xương

Được chỉ định khi chọc hút tủy xương không lấy được bệnh phẩm thích hợp cho chẩn đoán (do tủy bị xơ hóa hoặc đầy ắp tế bào).

2.2.4. Xét nghiệm tế bào và hoá học tế bào

Xét nghiệm tế bào và hóa học tế bào máu ngoại vi và tủy xương cho phép xếp loại bệnh bạch cầu tủy cấp theo FAB.

2.2.5. Hoá mô miễn dịch

Cho phép xác định các trường hợp mà hình thái học và hoá học tế bào không phân định được. Có khoảng 100 kháng nguyên (được gọi là các CD) có thể nhận biết được trên bề mặt tế bào tạo máu bằng kháng thể đơn dòng giúp phân được chính xác các dòng, loại của bệnh bạch cầu cũng như phân định được kiểu hình miễn dịch. Ngày nay, với kỹ thuật phân tích tế bào dòng chảy đa chiều hay đa thông số giúp xác định kích thước, mật độ hạt, bộ CD đặc trưng của từng loại bệnh bạch cầu.

2.2.6.  Di truyền học

Di truyền học tế bào cho phép phân chia các thể của bệnh bạch cầu thành các thể nhỏ hơn nữa và đã được đưa vào phân loại của Tổ chức Y tế thế giới.

Những nơi có điều kiện có thể làm thêm di truyển học phân tử.

2.2.7.  Nhóm máu

Rất quan trong, phục vụ cho việc hồi sức huyết học (truyển máu và các sản phẩm từ máu…),.

2.2.8.  Các xét nghiệm về đông máu

– Fibrinogen huyết: giảm

– Các sản phẩm giáng hóa fibrinogen tăng

 – Prothrombin giảm

– Thời gian prothrombin và PTT tăng.

2.2.9.  Các xét nghiệm sinh hóa

– Đa số là bình thường, chỉ biến đổi khi các cơ quan như: gan, thận… bị xâm lấn. Vì vậy, khi đánh giá bilan cần làm các xét nghiệm chức năng gan thận: urê, creatinin huyết, AST và ALT.

– Nồng độ acid uric và LDH thường tăng.

–  Điện giải đồ: ít biến đổi, có thể hạ kali huyết. Đôi khi có trường hợp tăng kali huyết giả ở những bệnh nhân có số lượng bạch cầu rất cao.

– Những bệnh nhân với số lượng bạch cầu rất cao cũng có thể có xét nghiệm đường huyết và oxy huyết giảm giả tạo do các tế bào non tiêu thụ sau khi lấy máu xét nghiệm.

2.2.10.            Các xét nghiêm chẩn đoán hình ảnh

Ít có giá trị chẩn đoán, được làm khi có chỉ định riêng đối với từng trường  hợp để đánh giá thêm.

2.3. Các điểm cơ bản để chẩn đoán xác định:

– Xanh xao nhiều, suy nhược.

– Sốt và nhiễm trùng (thường ở họng miệng và hậu môn).

– Các dấu hiệu của xuất huyết.

– Các thành phần non của các dòng bạch cầu hạt trong máu ngoại vi và trong tủy xương, giảm hồng cầu và tiểu cầu.

2.4. Xếp loại

Xếp loại FAB (French – American – British) cho bệnh bạch cầu tủy cấp:

Mo: các nguyên tủy bào không biệt hóa.

M1: bệnh bạch cầu tủy bào không biệt hóa.

M2: bệnh bạch cầu tủy bào biệt hóa.

M3: bệnh bạch cầu tiền tủy bào, tăng hạt hạt nhồ/hoặc giảm hạt (loại biến thể).

M4: bệnh bạch cầu đơn nhân tủy.

M4E0: bệnh bạch cầu đơn nhân tủy loại ưa Eosin (loại biến thể).

M 5a : bệnh bạch cầu nguyên bào đơn nhân.

M 5b: bệnh bạch cầu loại đơn nhân/tiền đơn nhân

M6: bệnh bạch cầu tàng sinh nguyên hồng cầu (hội chứng Di Guglielmo)

M7: bệnh bạch cầu loại nguyên bào nhân khổng lồ.

Gần đây, Tổ chức Y tế thế giới đã có phân loại thống nhất cho bệnh bạch cầu tủy cấp như sau:

Bệnh bạch cầu tủy cấp có các bất thường nhiễm sắc thể hồi quy:

–  Bệnh bạch cầu tủy cấp có t(8;21) (q22;q22), [AML1(CBF-a) /ETO].

– Bệnh bạch cầu tiền tủy bào cấp [BCTC với t(15;17)(q22;qll-12)]  (PLM/RAR-a) và các biến thể (PLZF/RAR-a), (NPM/RAR-a), (NuMA/RAR-a), (STAT 5b/RAR-a).

– Bệnh bạch cầu tủy cấp có tế bào ưa eosin bất thường ở tủy xương [inv(16)(pl3q22) hoặc t(16;16) (pl3;q22); (CBFap/MYH11).

– Bệnh bạch cầu tủy cấp có t(15;17) (q22;ql2), (PMLl/RARa) và các biến thể.

– Bệnh bạch cầu tủy cấp có các bất thường 11q23(MLL).

Bệnh bạch cầu tủy cấp có loạn sản đa dòng:

– Có hội chứng loạn sản tủy hoặc loạn sản tủy/tăng sinh tủy.

– Không có hội chứng loạn sản tủy.

Bệnh bạch cầu tủy cấp và hội chứng loạn sản tủy, liên quan với điều trị:

– Liên quan với thuốc alkyl hoá.

– Liên quan với thuốc ức chế topoisomerase II.

– Các loại khác.

Bệnh bạch cầu tủy cấp không dược phân loại:

– Bệnh bạch cầu tủy cấp, biệt hoá tối thiểu.

– Bệnh bạch cầu tủy cấp không trưởng thành.

– Bệnh bạch cầu tủy cấp trưởng thành.

– Bệnh bạch cầu đơn nhân tủy cấp.

– Bệnh bạch cầu nguyên bào đơn nhân và đơn nhân cấp.

– Bệnh bạch cầu dòng hồng cầu cấp.

+ Bệnh bạch cầu hồng cầu (tủy hồng cầu),

+ Bệnh bạch cầu chỉ có dòng hồng cầu.

– Bệnh bạch cầu nguyên bào nhân khổng lồ

Biến thể: bệnh bạch cầu tủy cấp, rối loạn tăng sinh tủy thoáng qua trong hội chứng Down.

– Bệnh bạch cầu ưa base cấp.

– Tăng sinh toàn tủy cấp có xơ hoá tủy.

– Saccôm dòng tủy.

Bệnh bạch cầu cấp dòng mập mờ:

– Bệnh bạch cầu cấp không biệt hoá.

– Bệnh bạch cầu cấp lưỡng dòng.

– Bệnh bạch cầu cấp lưỡng kiểu hình.

Tham khảo thêm

Điều trị ung thư bằng Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng

Giá mật ong rừng như thế nào là hợp lí trên thị trường?

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Name *
Email *
Website