Home » Sức khỏe » Điều trị ung thư bằng Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng

Điều trị ung thư bằng Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng

Điều trị ung thư bằng Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng

Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng đã dần trở thành hiện thực trong hơn nửa thế kỷ qua. Ý tưởng ban đầu xuất phát từ quan sát rằng nếu che chắn các tổ chức tạo huyết, khi xạ trị toàn bộ cơ thể ở động vật, chúng có thể phục hồi trở lại. Sau đó người ta đã tiêm các tế bào của lách hoặc tủy xương sau xạ trị liều chết người thì cũng thấy tác dụng bảo vệ như việc che tổ chức tạo huyết.

Tiếp đó, trong khoảng hơn 20 năm nay các thử nghiệm ghép tủy được tiến hành trên người và sau đó ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng. Tế bào gốc tạo máu của người đã được phân tích đặc điểm để có thể phân lập và nhân lên trong ống nghiệm. Công nghệ hiện nay đã cho phép nhận biết ở mức phân tử và tìm tế bào gốc và tế bào ác tính có trong tủy hoặc trong máu ngoại vi. Vấn đề nổi cộm hiện nay là sử dụng tế bào đầu nguồn ở tủy hay máu ngoại vi và sự thâm nhiễm tế bào ác tính vào tủy hoặc máu có khả năng làm tái phát bệnh.

Tham khảo thêm về Thuốc Tagrix điều trị ung thư phổi

Thuốc Erlocip 150 điều trị ung thư phổi

Sự hồi phục hệ tạo máu sau khi ghép được cho là xảy ra theo 2 giai đoạn. Trong vòng tháng đầu, các tế bào tiền thân được đưa vào tăng lên về số lượng. Sau đó tế bào gốc đa năng thực sự là thành phần làm hồi phục hệ tạo máu chậm nhưng bền vững. Ở đây chúng tôi không bàn chi tiết đến các kỹ thuật lấy tủy và gạn tế bào gốc máu ngoại vi. Số lượng chính xác tế bào có nhân cần cho truyền lại tủy vẫn chưa được định rõ nhưng thường từ 1 đến 3 x 108/kg cân nặng người nhận với 1/2 lít đến 1 lít tủy người cho. Việc xử lý tủy và máu ngoại vi thường nằm trong khả năng của các Viện có quy mô lớn về điều trị UNG THƯ. Về cơ bản, các tế bào có nhân được làm giầu bằng li tâm phân tách, làm lạnh chậm, thường với dimethylsulfosid, sau đó làm ấm trở lại nhanh chóng tại giường bệnh và truyền tĩnh mạch sau liều hóa chất cuối cùng từ 36 – 48 giờ.

Ghép dị gen

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong điều trị bệnh bạch cầu và các bệnh UNG THƯ huyết học khác. Chỉ dưới 5% ghép dị gen được áp dụng cho các bệnh máu không phải UNG THƯ như thiếu máu bất sản hoặc các hội chứng thiếu hụt miễn dịch hoặc các bệnh của hemoglobin. Hầu hết ghép dị gen hiện nay sử dụng tế bào gốc máu ngoại vi hơn là tủy xương của người cho. Ở các nghiên cứu không ngẫu nhiên, tế bào gốc ngoại vi có thời gian hồi phục bạch cầu hạt ngắn hơn tủy ko xương do có nhiều tế bào trưởng thành hơn và các tế bào đầu dòng có nhiệm vụ nhiều hơn. Thời gian hồi phục của tiểu cầu sau ghép tủy hoặc ghép tế bào gốc       ngoại vi vẫn có các dữ liệu mâu thuẫn.

Những người sinh đôi (ghép đồng gen) hoặc anh em ruột có HLA giống hệt nhau là những người cho tốt nhất. Người cho không phải họ hàng nhưng phù hợp HLA hiện nay cũng có thể có được thông qua các chương trình quốc tế đăng ký người cho. Tuy vậy, việc tìm một người cho thường là cả một vấn đề và chỉ       10% trường hợp được ghép dị gen là của người cho không phải họ hàng, hầu hết bệnh nhân còn lại có thể không có người cho. Với những người này, ghép tế bào gốc máu cuống rốn sẽ là một phương pháp cứu cánh. Trước đây, người ta sử dụng xét nghiệm phân loại kiểu hình huyết thanh để xác định HLA. Tuy nhiên, HLA rất đa dạng nên hầu hết các trung tâm ghép hiện nay sử định típ HLA mật độ cao và đôi khi định típ HLA dựa trên chuỗi để đánh giá người cho không huyết thống phù hợp nhất.

Hầu hết các trường hợp ghép tế bào gốc được làm và nên làm ở các viện có khả năng thực hiện ít nhất 5 trường hợp mỗi năm. Hiện tượng vật chủ chống mảnh ghép là nguyên nhân tử vong hay gặp nhất, chiếm một nửa số tử vong không do tái phát. Tỷ lệ tử vong liên quan đến ghép xảy ra ở 20 – 30% người được ghép bởi anh em giống hệt HLA và cao hơn đáng kể khi ghép từ người cho không huyết thống và không phù hợp hoặc gần phù hợp HLA (40 – 45%) so với người cho không huyết thống nhưng phù hợp HLA (23%). Vì vậy, bệnh nhân không có người cho trong gia đình thật phù hợp nên tìm người ngoài huyết thống phù hợp kiểu hình HLA.

Ghép tế bào gốc máu cuống rốn được thực hiện thành công lần đầu vào năm 1988 để điều trị một cậu bé bị thiếu máu Fanconi. Ghép tế bào gốc máu cuống rốn của người không huyết thống cho phép không phù hợp HLA ở mức cao hơn mà có tỷ lệ bệnh mảnh ghép chống chủ thấp hơn. Các đặc điểm khác của máu cuống rốn là mọc ghép nhanh so với nguồn tế bào gốc di gen khác khi cùng liều tế bào, cùng mức độ phù hợp HLA. Tỷ lệ thất bại và phục hồi sau ghép chậm ở ghép tế bào gốc máu cuống rốn còn cao là do liều tế bào gốc còn thấp. Các tế bào có nhân và CD34 thấp hơn 10 lần so với nguồn cho từ người lớn. Hầu hết các kết quả ghép máu cuống rốn đã công bố tập trung vào bệnh nhi bị các bệnh UNG THƯ huyết học. Kết quả ghép từ máu cuống rốn trong gia đình tương đương hoặc cao hơn một chút so với máu cuống rốn không huyết thống. Các nghiên cứu so sánh ghép tế bào gốc máu cuống rốn với ghép tủy xương từ người cho không huyết thống ở người lớn bị bệnh bạch cầu cấp cho thấy máu cuống rốn làm giảm nguy cơ bệnh mảnh ghép chống chủ cấp nhưng bạch cầu hạt hồi phục chậm hơn. Tỷ lệ bệnh mảnh ghép chống chủ mãn, thời gian sống không bệnh không khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm. Người ta đang thử nghiệm ghép hai nguồn máu dây rốn phù hợp HLA cho bệnh nhân người lớn nhằm vượt qua trở ngại về liều tế bào. Máu cuống rốn có lợi điểm là dễ kiếm và lưu trữ được trong ngân hàng tế bào gốc để sẵn sàng sử dụng. Điều này rất cần thiết với những bệnh nhân cần điều trị gấp trong khi không tìm được người cho thích hợp.

Ghép tự thân

Kỹ thuật này có thể thực hiện được ở nhiều bệnh nhân và số trung tâm thực hiện kỹ thuật này cũng tăng mạnh mẽ. Hiện nay, nhiều trung tâm sử dụng tế bào gốc máu ngoại vi thay dần cho ghép tủy trong ghép tự thân. Việc phát hiện tế bào gốc ngoại vi và các yếu tố tăng trưởng hệ tạo máu đã giúp rút ngắn thời gian bất sản của tủy so với ghép tủy tự thân. Các nghiên cứu ngẫu nhiên đã chứng minh việc sử dụng tế bào gốc máu ngoại vi có ít biến chứng về nhiễm trùng, rút ngắn thời gian nằm viện và chi phí thấp hơn. Nhiều trung tâm đã thực hiện ghép tự thân ngoại trú.

Thuốc hóa chất và các cytokin của hệ tạo máu được dùng để huy động tế bào đầu dòng từ tủy làm tăng thu hoạch các tế bào này. Tiếp theo, các tế bào gốc được lấy bằng phương pháp gạn bạch cầu bằng máy ly tâm.

Tuy nhiên, việc ghép tự thân khó có thể loại bỏ tế bào ác tính có ở trong sản phẩm được ghép trở lại. Ví dụ, ở bệnh nhân UNG THƯ vú, tế bào u có trong tủy ngay cả trong giai đoạn sớm. Bằng kỹ thuật thông thường, có thể phát hiện thấy tế bào ác tính ở máu ngoại vi của 1/4 số bệnh nhân UNG THƯ vú giai đoạn muộn. Với kỹ thuật huy động tế bào gốc thì 100% bệnh nhân UNG THƯ vú giai đoạn muộn có tế bào ác tính trong máu ngoại vi. Ở bệnh nhân u lymphô ác tính và UNG THƯ phổi cũng có sự ô nhiễm như vậy nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Như vậy, các tế bào ác tính gây ô nhiễm vào lúc thu lượm tế bào gốc đã sinh sôi và gây tái phát ngay cả sau khi đã được thanh lọc.

Các kỹ thuật đánh dấu phân tử đã khẳng định nguồn gốc tái phát bệnh bạch cầu ở trẻ em sau khi điều trị liều cao và ghép tủy tự thân là các tế bào bạch cầu đã bị cấy trở lại. Điều này dẫn đến việc người ta cố gắng thanh lọc các tế bào gốc khỏi bị nhiễm các tế bào u bằng các kỹ thuật khác nhau từ hóa trị trong ống nghiệm cho đến phân lập miễn dịch.

Việc thanh lọc mặc dù có vai trò trên động vật nhưng chưa được thấy là có giá trị ở người. Một phương pháp thay thế cho thanh lọc là chọn lọc tế bào gốc một cách tích cực bằng kháng thể đơn dòng CD34 và hấp thụ miễn dịch. Tuy vậy cho đến nay kỹ thuật này mới chỉ đang trong nghiên cứu.

Tham khảo thêm bài viết: 

5 Cách chữa bệnh yếu sinh lý ở nam giới tại nhà hiệu quả bất ngờ

Hé lộ nguyên nhân tạì sao phụ nữ ngày nay khó có con

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Name *
Email *
Website