Home » Uncategorized » UNG THƯ GAN

UNG THƯ GAN

UNG THƯ GAN

1. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư gan là loại UNG THƯ phổ biến hàng thứ 5 trên toàn cầu và đứng thứ 4 trong các nguyên nhân gây tử vong do UNG THƯ ở người. Tại Việt Nam, qua ghi nhận ung thư tại Hà Nội giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ mắc UNG THƯ gan chuẩn theo tuổi ở nam giới là 22,6/100.000 dân, phổ biến đứng hàng thứ 3, ở nữ giới là 6,3/100.000 dân, phổ biến đứng hàng thứ 8.

Nguyên nhân của bệnh có liên quan rõ rệt với viêm gan vi rút B, viêm gan C, sán lá, vai trò của Aflatoxin, Mycotoxin, rượu và thuốc tránh thai. Chính vì vậy, tiêm vắc xin phòng viêm gan đóng vai trò then chốt trong phòng UNG THƯ gan. Phẫu thuật đóng vai trò chủ đạo trong điều trị căn bệnh này ở giai đoạn khu trú. Các trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, thể trạng yếu… có thể sử dụng các phương pháp khác như tắc mạch hoá dầu, xạ trị triệu chứng, thuốc điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng. Hoá chất có vai trò hạn chế trong điều trị UNG THƯ gan. Có khoảng 15-40% UNG THƯ gan có thụ thể nội tiết dương tính và đáp ứng với nội tiết trị liệu. Gần đây, nhờ sự phát triển của công nghệ sinh học, một số thuộc nhóm điều trị đích đã và đang được ứng dụng phần nào cải thiện được sống cho người bệnh UNG THƯ gan giai đoạn muộn.

2. CHẨN ĐOÁN

2.1. Thể điển hình thường gặp

Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, nặng ở vùng dưới sườn phải, sờ thấy u rồi đi khám. Qua lâm sàng, nhìn, sờ, gõ, nghe có thể xác định UNG THƯ gan. Chụp gan xa, siêu âm, cắt lớp vi tính, hút tế bào, aFP để xác định thêm chẩn đoán. Tốt nhất là sinh thiết gan bằng kim dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc nội soi ổ bụng.

2.2. Các thăm dò phát hiện sớm

– Định lượng aFP bằng phương pháp ELISA hoặc RIA, tập chung vào các đối tượng nguy cơ cao: có tiền sử viêm gan đang mang HbsAg, những thân nhân của người bị xơ gan hoặc UNG THƯ gan.

– Thăm dò siêu âm hoặc chọc dò chẩn đoán tế bào, chụp cắt lớp vi tính (nếu nghi ngờ) hoặc MRI. PET có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt giữa u gan lành và ác, phát hiện mức độ xâm lấn ra ngoài gan và đánh giá đáp ứng với điều trị.

2.3. Chẩn đoán giai đoạn

Theo TNM (UICC-2010)

2.3.1. U nguyên phát

Tx:         u nguyên phát không đánh giá được.

T0:         không thấy u nguyên phát

T1:         u đơn độc, không có xâm lấn mạch máu

T2:         u đơn độc có xâm lấn mạch máu hoặc nhiều u với kích thước không vượt quá 5cm.

T3:         nhiều u > 5cm hoặc có xâm lấn tới nhánh lớn của tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch gan.

T4:         U xâm lấn trực tiếp tới cơ quan lân cận ngoài túi mật hoặc rò vào phúc mạc

2.3.2. Hach vùng

Nx:        hạch vùng không đánh giá được

N0:         không có di căn hạch vùng

N1:         di căn hạch vùng

2.3.3.  Di căn xa

M0:        không có di căn xa

M1:        có di căn xa

3. ĐIỀU TRỊ

3.1. Điều trị ngoại khoa

Phẫu thuật là phương pháp chủ đạo trong điều trị UNG THƯ gan. Cho tới nay, phương pháp được cho có khả năng điều trị khỏi UNG THƯ gan là ghép gan. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm cho bệnh nhân được ghép gan lên tới 62% tại các nước phát triển. Tuy nhiên, tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân khắt khe nên số lượng đủ tiêu chuẩn còn hạn chế.

Cắt gan một phần hiện vẫn là phương pháp điều trị chuẩn cho UNG THƯ gan khu trú tại chỗ giai đoạn T1-3, N0, M0. Mức độ rộng của phẫu thuật phụ thuộc vào độ lan tràn của xơ gan, phần nhu mô gan còn lại và kích thước u. Tắc mạch hoá dầu hoặc hoá chất động mạch gan thường được chỉ định cho bệnh nhân có kích thước u không quá 7cm.

3.1. Khối u còn khả năng cắt bỏ được

Phẫu thuật: khi thể trạng cho phép, u còn khu trú, phần gan lành không bị xơ.

Điều trị bổ sung: bằng hóa trị, kích thích miễn dịch không đặc hiệu chưa cho thấy hiệu qua rõ.

3.2. Khối u không còn khả năng cắt bỏ được

Thắt động mạch gan làm hoại tử một phần tổ chức UNG THƯ kết hợp 1 thích miễn dịch không đặc hiệu.

Thắt động mạch gan, đặt ống thông truyền hóa chất động mạch gan phương pháp này thế giới đang dùng nhiều nhưng chưa công bố kết quả rõ rệt, phương pháp này được áp dụng nhiều hơn cả cho điều trị di căn gan do UNG THƯ ở đường tiêu hóa.

Xạ trị vào khối u: tế bào gan nối chung chỉ chịu đựng tối đa 30Gy. Nếu dùng nhiều trường chiếu thì nâng liều tại u lên 70Gy. Có thể tia trải liều hoặc tia liều tập trung. Tia liều tập trung bằng dao gamma hay dao tia X đang được nghiên cứu.

– Điều trị hoá chất chọn lọc động mạch gan: dùng thông động mạch chọn lọc, bơm hoá chất doxorubixin hoặc cồn tuyệt đối vào nhánh chi phối vùng UNG THƯ, sau đó nút tạm lại. Lần sau tháo nút dây tắc ra, tiếp tục bơm hoá chất. Có thể nhắc đi nhắc lại 5 – 7 lần. Khả năng lui bệnh đạt được chủ yếu để giảm triệu chứng. Có thể cắt gan sau khi khu trú được tổn thương.

– Tiêm cồn 90° vào ổ UNG THƯ: một số tác giả Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam đã áp dụng. Kết quả còn lẻ tẻ chủ yếu để chữa triệu chứng.

– Hoá chất đơn thuần: phương pháp này chủ yếu áp dụng cho giai đoạn muộn. Tuy nhiên tỷ lệ đáp ứng không cao, thường dưới 10%.          

– Điều trị đích: gần đây phương pháp này được áp dụng rộng rãi cho các trường hợp UNG THƯ gan giai đoạn muộn. Hiệu quả trong điều trị bổ trợ đang được nghiên cứu.

Một số phát đồ hóa chất áp dụng trong ung thư gan

Phác đồ Sorafenib

Gemcitabin 1.000mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Oxaliplatin 100mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 2

Phác đồ Bevacizumab + Erlotinib

Bevacizumab 10mb/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1 và 14

Erlotinib 150mg, uống hàng ngày

Tham khảo thêm: Thuốc Geftinat điều trị ung thư phổi

Các phát đồ đơn chất

– Sorafenib, 400mg, uống 2 lần/ngày, tới khi bệnh tiến triển. Liều có thể giảm xuống 400mg, hàng ngày hoặc 400mg cách ngày.

– Doxorubcin: 20-30mg/m2, truyền tĩnh mạch hàng tuần.

– Cisplatin 80mg/m2, truyền tĩnh mạch hàng tuần.

– Capecitabin 1.000mg/m2, uống ngày 2 lần, từ ngày 1-14, chu kỳ 21 ngày. Liều có thể giảm 825-900mg/m2.

– Bevacizumab 10mg/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 14 ngày.

Điều trị ung thư bằng Các phương pháp thay thế tế bào đầu dòng

5 Cách chữa bệnh yếu sinh lý ở nam giới tại nhà hiệu quả bất ngờ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Name *
Email *
Website